Thứ Ba, 12 tháng 1, 2016

5 dấu hiệu cho biết bạn bị tiểu đường thai kỳ

Tiểu đường thai kỳ có thể được phát hiện bởi một cuộc xét nghiệm thử glucose trong tuần thai thứ 24 - 28 của thai kỳ. Tuy nhiên, nếu biết những dấu hiệu tiểu đường thai kỳ, mẹ bầu sẽ nhanh chóng có biện pháp điều trị phù hợp.

Chỉ xảy ra trong thời kỳ mang thai và “biến mất” ngay sau khi sinh, tiểu đường thai kỳ có thể không gây bất kỳ ảnh hưởng xấu nào đến sức khỏe mẹ và sự phát triển của bé nếu được kiểm soát tốt. Đa số các trường hợp tiểu đường thai kỳ không có dấu hiệu nào đặc biệt, và thường đuợc phát hiện nhờ các buổi khám thai định kỳ. Tuy nhiên, một số trường hợp khi lượng đường tăng quá cao, bầu có thể để ý một số dấu hiệu tiểu đường thai kỳ sau đây:

khát nước là dấu hiệu của tiểu đường thai kỳ

Khát nước là biểu hiện của bệnh tiểu đường thai kỳ

90% các trường hợp bị tiểu đường thai kỳ có thể kiểm soát tốt nhờ một chế độ ăn uống và tập luyện hợp lý

1. Thường xuyên buồn tiểu.

Khi mang thai, do sự gia tăng của hoóc-môn hCG và áp lực trên bàng quang gia tăng, mẹ bầu có thể sẽ cảm thấy “buồn tiểu” nhiều hơn bình thường. Đây là một hiện tượng khá bình thường, xảy ra với hầu hết các phụ nữ mang thai. Tuy nhiên, cũng chính vì vậy, các mẹ thường bỏ qua chi tiết này và không biết mình đã “dính chưởng”.

Theo các chuyên gia, tiểu đường thai kỳ cũng có thể gây nên tình trạng đi tiểu thường xuyên. Bởi khi luợng glucose không được chuyển hóa hết và tồn đọng trong máu, thận sẽ “phản ứng” bằng cách xả vào nước tiểu. Điều này khiến cơ thể phải sản sinh thêm lượng nước tiểu, và hệ quả là bạn sẽ phải “ghé thăm” nhà vệ sinh nhiều hơn. Trao đổi thêm với bác sĩ nếu thường xuyên phải thức vài lần mỗi đêm để đi tiểu, bầu nhé!

2. Cảm thấy khô miệng, khát nước

Giống như một chuỗi tuần hoàn, lượng đường trong máu cao đòi hỏi bạn phải đi tiểu nhiều hơn, và việc thường xuyên ghé thăm nhà vệ sinh lại khiến cơ thể mất nước, cần bổ sung thêm nước. Cứ như vậy, những mẹ bầu có dấu hiệu tiểu đường thai kỳ thường có cảm giác khô miệng và muốn uống nước nhiều hơn bình thuờng.

3. Ăn “không kiểm soát”

Phải “ăn cho hai người” cùng lúc nên việc ăn nhiều là điều có thể hiểu được. Tuy nhiên, nếu thường xuyên cảm thấy đói và lúc nào cũng thèm ăn, dù rằng vừa “ních” thêm một khẩu phần ăn khổng lồ, bạn có thể cần phải xem lại. Những người bị tiểu đường thai kỳ thường là do insulin trong cơ thể không chuyển hóa hết glucose thành năng lượng nuôi cơ thể. Không đủ năng lượng cần thiết, cơ thể liên tục gửi “tín hiệu” cho não cảm thấy đói, và làm bạn cũng cảm nhận cơn đói “đeo đẳng”.

4. Nguy cơ nhiễm trùng “cô bé” gia tăng

Lượng đường trong cơ thể tăng cao khiến những vi khuẩn và các loại nấm men ở “cô bé” tăng cao, và nguy cơ nhiễm nấm âm đạo cũng cao hơn bình thường. Nếu có các dấu hiệu ngứa ngáy, rát buốt khi đi tiểu, dịch tiết âm đạo có mùi hôi… bầu nên nhanh chóng đi khám bác sĩ.

luyện tập giúp kiểm soát bệnh tiểu đường

Tập luyện giúp kiểm soát tiểu đường thai kỳ

Những hoạt động thể dục, thể thao như bơi lội, đi bộ, khiêu vũ đều đặn có thể giúp bạn kiểm soát tốt chứng tiểu đường trong thai kỳ

5. Mắt mờ trong thời gian ngắn

Khi lượng đường trong máu tăng đột ngột, và cơ thể chưa thích nghi kịp với sự thay đổi này dẫn đến tình trạng mờ mắt trong một thời gian ngắn. Tầm nhìn của bạn sẽ trở lại bình thường khi cơ thể thích nghi.
Ngoài các dấu hiệu trên, mẹ bầu cũng nên cẩn thận, thường xuyên kiểm tra máu nếu vô tình “sở hữu” một trong những điều sau:
Có mức cân nặng vượt chuẩn, chỉ số khối của cơ thể (BMI) vượt quá 30
Từng sinh bé có nặng hơn 4,5 kg
Tiền sử bị tiểu đường thai kỳ hoặc có người thân bị tiểu đường

Thứ Hai, 11 tháng 1, 2016

Nguy hiểm do biến chứng của bệnh tiểu đường gây ra

Theo số liệu thống kê người bị bệnh tiểu đường từ 3 năm trở lên, tỷ lệ biến chứng là trên 46%; Người bị tiểu đường từ 5 năm trở lên, tỷ lệ biến chứng là trên 61%; Người bị từ 10 năm trở lên, tỷ lệ xuất hiện biến chứng là trên 98%

biến chứng bệnh tiểu đường
Biến chứng bệnh tiểu đường

Biến chứng của bệnh tiểu đường là biến chứng mãn tính thường gặp, là do bệnh tiểu đường chuyển thành, mang lại hậu quả nghiêm trọng tương đương. Các bệnh như bệnh về chân (mụn nhọt chân, đoạn chi), bệnh thận (suy thận, chứng độc niệu), bệnh về mắt (nhìn mờ, mù), bệnh về não (bệnh huyết quản não), bệnh tim, bệnh da liễu, bệnh tình dục…là những biến chứng thường gặp do bệnh tiểu đường gây ra, đó là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến tử vong ở bệnh nhân tiểu đường.
Dưới đây chúng tôi sẽ giới thiệu chi tiết những biến chứng thường gặp nhất của bệnh tiểu đường:

1.Biến chứng bàn chân do tiểu đường


Do xơ cứng động mạch ở bệnh nhân tiểu đường, đã hình thành những mảng bám, gây tổn thương đến thần kinh các chi, huyết quản dễ bị tắc, mà “chân” xa tim nhất, do đó hiện tượng tắc càng nghiêm trọng, từ đó gây nên phù nề, đen, loét, hoại tử. Hiện nay, thường sử dụng phương pháp cắt bỏ chân, phẫu thuật bắc cầu đối với những bệnh nhân có bệnh về chân do tiểu đường. Do bệnh nhân biến chứng bàn chân do tiểu đường thường có tuổi tác cao, vùng làm phẫu thuật rộng, vết thương sẽ khó lành, rất dễ bị viêm nhiễm và tái phát. Bệnh nhân sau khi cắt cụt chi, tỷ lệ tử vong trong vòng 2 năm là 51%, tỷ lệ cắt cụt chi cả hai bên hơn 50%. Do đó, điều trị biến chứng bàn chân do tiểu đường bằng phương pháp truyền thống vô cùng nguy hiểm, nhiều bệnh nhân sau khi bị căn bệnh này, rất dễ mất đi lòng tin đối với cuộc sống. Nếu sử dụng phương pháp cấy ghép tế bào gốc tiến tiến nhất hiện nay thì không cần phải phẫu thuật, giảm đau đớn, không có tác dụng phụ, tính an toàn cao, hiệu quả tốt.

2.Biến chứng bệnh thận do tiểu đường


Bệnh thận do tiểu đường là một trong những biến chứng chủ yếu của bệnh tiểu đường, là một bệnh nguy hại vô cùng nghiêm trọng của bệnh nhân tiểu đường. Bệnh biến có thể liên quan đến huyết quản thận, tiểu quản thận và trung mô. Những tổn thương về thận thường gặp là chứng xơ hóa cầu thận do tiểu đường, chứng xơ cứng động mạch nhỏ, viêm thận, viêm bể thận, hoại tử nhú thận, protein niệu…Trong đó chứng xơ hóa cầu thận do tiểu đường là biến chứng bệnh thận đặc trưng của bệnh tiểu đường, trên lâm sàng thường gọi là bệnh thận đái tháo đường. Bệnh thận đái tháo đường là một nguyên nhân chủ yếu gây tử vong ở bệnh nhân tiểu đường. Có người thống kê, trong những bệnh nhân tiểu đường trung niên, tỷ lệ phát bệnh ở bệnh nhân bệnh thận đái tháo đường là 20%, ở bệnh nhân lớn tuổi là 65%.

3.Biến chứng về mắt ở bệnh nhân đái tháo đường


Những biến chứng về mắt của bệnh tiểu đường có 7 loại thường gặp: bệnh lý võng mạc do tiểu đường, bệnh lý biểu mô sắc tố võng mạc do tiểu đường, đục thủy tinh thể do tiểu đường, thay đổi thần kinh thị giác do tiểu đường, tăng nhãn áp do tiểu đường, thay đổi tật khúc xạ do tiểu đường. Trong đó bệnh lý võng mạc do tiểu đường là thường gặp nhất, nó là nguyên nhân quan trọng dẫn đến mù do bệnh tiểu đường, cũng là nguy hại lớn nhất của bệnh tiểu đường, tiếp theo là đục thủy tinh thể do tiểu đường, đây cũng là biến chứng thường gặp nhất ảnh hưởng đến thị lực của bệnh tiểu đường.


NHÀ THUỐC ĐÔNG Y GIA TRUYỀN

LƯƠNG Y: NGUYỄN THỊ KIM ĐOAN

Hotline: 0911.478.099

Xóm Làng - Xã Đại Yên - Huyện Chương Mỹ - TP Hà Nội

Thứ Sáu, 8 tháng 1, 2016

Điều trị tình trạng tăng đông ở bệnh nhân tiểu đường

Tình trạng tăng đông ở bệnh nhân ĐTĐ có thể ảnh hưởng đến bệnh lý tim mạch. 

điều trị tình trạng tăng đông ở bệnh nhân tiểu đường

Điều trị bằng aspirin có lợi trong phòng ngừa tiên phát và thứ phát cho các bệnh nhân đái tháo đường. Liều điều trị nên lựa chọn là liều có hiệu quả cao nhất với tác dụng phụ ít nhất. 

Các bệnh nhân trên 45 tuổi hay những người có kèm theo tăng huyết áp, rối loạn lipid máu hoặc bệnh tim mạch (bệnh động mạch vành, đột quỵ hay bệnh mạch máu ngoại biên) nên được điều trị bằng aspirin 75-100 mg/ngày. 

Nếu bệnh nhân bị dị ứng với aspirin, các thuốc ức chế ngưng tập tiểu cầu khác như clopidogrel 75 mg/ngày có thể được dùng thay thế ở các bệnh nhân có nguy cơ cao.

Thứ Năm, 7 tháng 1, 2016

Tiểu đường có phải điều trị suốt đời không?

Tiểu đường là một căn bệnh phổ biến hiện nay, gây ra những biến chứng vô cùng nguy hiểm. Có rất nhiều người thắc mắc rằng tiểu đường có phải điều trị suốt đời không?

Tiểu đường là một bệnh trong đó cơ thể không sản xuất đủ insulin, hay không thể sử dụng insulin. Thông thường, các loại tinh bột,chất đường và các chất dinh dưỡng khác được phân tách thành glucose, và được máu chuyển đến các tế bào. Các tế bào sử dụng insulin, một chất nội tiết tố (hormone) do tuyến tụy tiết ra, giúp chuyển hóa glucose thành năng lượng. Nếu không có đủ insulin, hay insulin không được sử dụng đúng, glucose sẽ tăng lên trong máu và nước tiểu, điều này sẽ gây nên rất nhiều vấn đề về sức khỏe.

tiểu đường có phải điều trị suốt đời

Tiểu đường có phải điều trị suốt đời?

Bệnh tiểu đường bao gồm 2 nhóm: tiểu đường tuýp 1 và tiểu đường tuýp 2.
Bệnh tiểu đường tuýp 1 thường xảy ra ở những người trẻ dưới 30 tuổi và thường biểu hiện triệu chứng lâm sàng rầm rộ, thường có tiền sử gia đình có người bị đái tháo đường hoặc các bệnh lý tự miễn khác.

Bệnh tiểu đường tuýp 2 thường gặp ở những người từ trên 30 tuổi, triệu chứng lâm sàng không rầm rộ, gặp nhiều ở những người bị béo phì.
Bệnh tiểu đường là một bệnh nội tiết đặc trưng bởi đường huyết tăng cao với nhiều nguyên nhân khác nhau và là bệnh lý mạn tính, không thể điều trị khỏi hoàn toàn mà phải dùng thuốc hàng ngày. Tuy nhiên, bằng việc xây dựng một chế độ ăn uống hợp lý, tập luyện thường xuyên kết hợp với điều trị, bạn có thể kiểm soát được lượng đường trong máu, tránh những biến chứng tiểu đường có thể xảy ra.

Thứ Tư, 6 tháng 1, 2016

Giảm cân với người bị tiểu đường.

Người bị tiểu đường phải tuân thủ chế độ ăn uống nghiêm ngặt tránh tình trạng đường huyết tăng cao. Do vậy bệnh nhân tiểu đường cần đặc biệt chú ý nếu muốn giảm cân.

Bạn đã quá quen thuộc với các thực phẩm giúp giảm cân nhất là các loại rau, củ, quả. Tuy nhiên những người bệnh tiểu đường gần như rất khó khăn trong giảm cân và chăm sóc sức khỏe. Một vài gợi ý gần đây về những thực phẩm cũng như khẩu phần giảm cân như thế nào tốt cho người tiểu đường.

Cân nặng và bệnh tiểu đường.

cân nặng và bệnh tiểu đường

Càng béo phì bạn có nguy cơ mắc bệnh tiểu đường càng cao.

Những người thừa cân quá mức có nguy cơ mắc bệnh tiểu đường tuýp 2 và đồng thời kéo theo các tình trạng huyết áp khiến cơ thể mệt mỏi. Những người tiểu đường có cơ thể rất yếu, mất sức đề kháng nên việc giảm cân cũng rất khó khăn. Đó là cuộc đấu tranh quyết liệt giữa cân nặng và bệnh tiểu đường.
Theo Cathy Nonas, Bác sĩ, Tiến sĩ y khoa, giáo sự của trường ĐH Y Mount Sinai, New York, Mỹ, đồng thời là phát ngôn viên của Hiệp hội Dinh dưỡng ăn kiêng Hoa Kỳ cho biết cho dù bạn cân nặng bao nhiêu nhưng khi mắc bệnh tiểu đường bạn cần kiểm soát cân nặng để giúp giảm đi lượng đường trong máu đáng kể. Bà cho biết thêm nếu giảm 5-10% trọng lượng thì bạn sẽ giảm đáng kể lượng đường trong máu và có thể bỏ một số thuốc hỗ trợ cho bệnh này.

Vậy giảm cân như thế nào cho bệnh nhân tiểu đường ?



Nên giảm cân như thế nào để bệnh tiểu đường không trầm trọng thêm.

Lời khuyên đầu tiên là đừng cố giảm cân một mình, mà hãy tham khảo ý kiến các bác sỹ, cũng như nên sử dụng các thực phẩm như thế nào cho hợp lý.

Theo các chuyên gia dinh dưỡng ăn kiêng Hoa Kỳ cho rằng để giảm cân thành công bạn cần kiểm soát chặt chẽ đường huyết khi giảm cân và không nên để lượng đường máu lúc cao, lúc thấp thất thường. Theo các chuyên gia này chỉ cần cắt giảm 500 calo/ngày bạn sẽ lượng dinh dưỡng ổn định từ protein, chất béo, tinh bột. Theo các chuyên gia bạn nên giảm 500 calo/ngày so với bữa ăn bình thường. Một khẩu phần ăn cho người giảm cân là: 
50-55% lượng tinh bột từ cơm, bánh mì hoặc bún…
30% chất béo: bao gồm dầu ăn, chất béo từ thịt, cá, các loại hạt
10-15% protein từ thịt, trứng, cá, sữa…
Như vậy bạn không cần ăn kiêng nghiêm ngặt, chỉ cần giảm 500 calo so với số lượng ăn uống bình thường để giảm cân. Tức là bạn phải giảm một ít năng lượng từ tinh bột, các loại thực phẩm giàu protein, chất béo như vậy là có thể giảm cân an toàn cho sức khỏe. Tuy nhiên bạn phải kiên trì lâu dài, đều đặn để tránh lượng đường trong máu lên xuống thất thường.
Người càng béo càng dễ bị tiểu đường. Nhưng chế độ giảm cân không khoa học lại có thể gây ra bệnh tiểu đường. Do đó, khi thực hiện giảm cân bạn cần phải hết sức chú ý, hãy tham khảo ý kiến của các chuyên gia trước khi thực hiện tránh tình trạng bệnh trở nên nghiêm trọng hơn.

NHÀ THUỐC ĐÔNG Y GIA TRUYỀN

LƯƠNG Y: NGUYỄN THỊ KIM ĐOAN

Hotline: 0911.478.099

Xóm Làng - Xã Đại Yên - Huyện Chương Mỹ - TP Hà Nội

Thứ Ba, 5 tháng 1, 2016

Nóng, ngứa, tê chân có thể là dấu hiệu tiểu đường

Các nhà khoa học của trường Đại học giải phẫu chân và mắt cá chân (ACFAS) vừa công bố một nghiên cứu cho thấy, nếu bạn cảm thấy nóng, ngứa ran hoặc tê bàn chân và các ngón chân, nhiều khả năng bạn đã mắc bệnh tiểu đường.

tê chân là dấu hiệu của bệnh tiểu đường

Theo phóng viên TTXVN tại Washington, các nhà khoa học Mỹ, những triệu chứng nêu trên xuất hiện là do sự cảm nhận từ thần kinh ngoại biên hay còn được gọi là "thần kinh ngoại biên bệnh tiểu đường".

Hệ thần kinh ngoại biên ở chân bị ảnh hưởng dẫn tới việc bạn cảm thấy tê chân một cách thường xuyên; thậm chí làm xuất hiện nốt viêm tấy ở kẽ ngón chân; làm ngón chân khoằn lại, gây nên hiện tượng khô da và nứt nẻ ở chân.

Ngoài ra, triệu chứng nóng, ngứa, tê bàn và các ngón chân có thể còn là triệu chứng tuyến giáp của bạn có vấn đề.

Theo các nhà khoa học, có tới 1/4 trong số 23 triệu bệnh nhân tiểu đường ở Mỹ không tự phát hiện được các triệu chứng bệnh. Chi phí cho các bệnh nhân tiểu đường tại Mỹ vào khoảng 5 tỷ USD/năm.


Thứ Hai, 4 tháng 1, 2016

Khi nào mắc bệnh đái tháo đường?

Gần đây em thấy cơ thể có sự khác thường như hay khát nước và hay đi tiểu nhiều , em lo là mình bị mắc bệnh đái tháo đường, bác sĩ có thể cho em biết khi nào thì biết mình mắc bệnh đái tháo đường không ạ?

nguy cơ mắc bệnh tiểu đường


Trả lời:


Bạn Qúy thân mến! Có 3 tiêu chí để chẩn đoán mắc bệnh tiểu đường như sau:

- Đường huyết tương lúc đói (tối thiểu là 8 giờ sau ăn): >7 mmol/L (>126 mg/dl).

- Đường huyết tương giờ thứ hai sau nghiệm pháp tăng đường máu: > 11,1 mmol/L (>200 mg/dl).

- Đường huyết tương ở thời điểm bất kỳ: >11,1 mmol/L (> 200 mg/dl), kèm theo các triệu chứng uống nhiều, đái nhiều và gầy sút.

Như vậy, việc chẩn đoán bệnh đái tháo đường phải được thực hiện ở các cơ sở y tế và được bác sĩ chuyên khoa kết luận. Bệnh nhân có thể mắc một trong 2 thể:

- Đái tháo đường type 1:

Là bệnh tự miễn dịch mãn tính. Quá trình gây bệnh là quá trình huỷ hoại các tế bào bêta tiết ra insulin. Hậu quả là cơ thể thiếu hoặc không còn insulin trong máu. Đối với loại này, khi điều trị buộc phải dùng insulin.

- Đái tháo đường type 2:

Là tình trạng cơ thể yêu cầu phải có một lượng insulin ngoại lai đưa vào để duy trì sự chuyển hóa bình thường. Người bệnh không thể tránh khỏi biến chứng cấp tính hoặc mãn tính. Trong đó:

+ Biến chứng cấp tính xảy ra đột ngột, diễn biến nhanh, triệu chứng lâm sàng đa dạng như hạ đường máu, hôn mê… Loại biến chứng này đe doạ tính mạng người bệnh nếu không được cấp cứu kịp thời.

+ Biến chứng mạn tính xảy ra liên tục và không dễ nhận thấy. Nó phá huỷ cơ thể người bệnh và khi phát hiện lâm sàng thì biến chứng đã ở giai đoạn muộn. Một số triệu chứng thường gặp là mạch máu lớn, tổn thương mạch, bất lực hoặc rối loạn tình dục… Ngày nay, đái tháo đường type 2 có thể phòng ngừa được.

Với trường hợp của bạn Qúy, chúng tôi chẩn đoán bạn bắt đầu có các dấu hiệu của bệnh đái tháo đường, tuy nhiên, để chính xác hơn bạn nên đến bệnh viện cơ sở gần nhất để kiểm tra nồng độ đường huyết trong máu của mình và để có những biện pháp thích hợp để điều trị nếu như bạn đã mắc bệnh.